Tâm lý tuổi thanh niên
Ở lứa tuổi này các biểu hiện rối
loạn nhân cách tăng lên rõ rệt và trong phần lớn các trường hợp, chúng có nguồn
gốc sâu xa trong các quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ thầy - trò không thuận
lợi.
Nhìn chung có
thể chấp nhận xác định lứa tuổi thanh niên là giai đoạn lừ 14 - 18 tuổi. Việc
xác các định lứa tuổi thanh niên như vậy tương đối tương đồng với việc phân
đoạn từ góc độ sinh lý học hay xã hội học. Tuy nhiên, các ngưỡng tuổi trên và
ngưỡng tuổi dưới có thể dịch chuyển chút ít (độ 1, 2 tuổi) tùy thuộc vào đặc
điểm phát triển lịch sử - xã hội, đặc điểm giới và cả đặc điểm phát triển cá
nhân.
Hình thành
biểu tượng "cái tôi” có tính hệ thống
Vị thế xã hội
của lứa tuổi thanh niên có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó. Một mặt các
quan hệ xã hội của thanh niên được mở rộng. Trong các quan hệ đó người lớn, kể
cả thầy cô giáo và bố mẹ đều nhìn nhận thanh niên như những người "chuẩn
bị thành người lớn và đòi hỏi họ phải có các cách ứng xử phù hợp với vị thế của
mình. Mặt khác, khác với học sinh lớp dưới, học sinh cuối cấp II và học sinh
cấp III đứng trước một thách thức khách quan của cuộc sống: phải chuẩn bị lựa
chọn cho mình một hướng đi sau khi tốt nghiệp phổ thông, phải xây dựng cho mình
một cuộc sống độc lập trong xã hội… Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự
thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên
những nhu cầu về hiểu biết thế giới hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ
người - người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội...
Bước sang tuổi
thanh niên, các chức năng tâm lý của con người cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt
là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các nghiên cứu tâm lý
học cho thấy rằng hoạt động tư duy của thanh niên rất tích cực và có tính độc
lập tư duy lý luận phát triển mạnh. Thanh niên có khả năng và rất ưa thích khái
quát các vấn đề. Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với
khả năng sáng tạo. Nhờ khả năng khái quát thanh niên có thể tự mình phát hiện
ra những cái mới. Với họ điều quan trọng là cách thức giải quyết các vấn đề
được đặt ra chứ khống phải là loại vấn đề nào được giải quyết. Học sinh cấp III
đánh giá các bạn thông minh trong lớp không dựa vào điểm số mà dựa vào cách
thức giải bài tập. Họ có xu hướng đánh giá cao các bạn thông minh và những thầy
cô có phương pháp giảng dạy tích cực, tôn trọng những suy nghĩ độc lập của học
sinh, phê phán sự gò ép, máy móc trong phương pháp sư phạm.
Trên cơ sở các
điều kiện khách chủ quan nêu trên tự ý thức phát triển.
Nghiên cứu khả
năng đánh giá con người của thanh niên nhiều nhà tâm lý học nhận thấy rằng khi
đánh giá con người nếu như thiếu niên thường nêu lên những đặc điểm mang tính
nhất thời liên quan đến những hoàn cảnh cụ thể trong các mối quan hệ với bố mẹ
hoặc thầy cô giáo, thì thanh niên chú ý nhiều hơn đến những phẩm chất nhân cách
có tính bền vững như các đặc điểm trí tuệ, năng lực, tình cảm, ý chí, thái độ
đối với lao động, quan hệ với những người khác trong xã hội… Từ chỗ nhìn nhận
được những phẩm chất mang tính khái quát của người khác dần dần con người tự
phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân mình. Các em ở lứa tuổi thiếu niên
cảm nhận được các rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái
"cái tôi" của mình. Song nhờ tư duy khái quát phát triển trên cơ sở tiếp
thu các tri thức chung mang tính phương pháp luận thanh niên ý thức được các
mối quan hệ giữa các thuộc tính tâm lý và các phẩm chất nhân cách, có khả năng
tạo được một hình ảnh “cái tôi" trọn vẹn và đầy đủ hơn để từ đó xây dựng
các mối quan hệ với người khác và với chính mình.
Biểu tượng về
"cái tôi" trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên thường chưa
thật rõ nét. Do đó tự đánh giá về bản thân không ổn định và có tính mâu thuẫn.
Tôi trong biểu tượng của tôi rất tuyệt vời song thanh niên cũng dễ rơi vào
trạng thái nghi ngờ điều đó. Nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với bạn
bè đồng lứa phát triển mạnh ở lứa tuổi này đã thực hiện một chức năng quan
trọng là giúp thanh niên dần hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân chính xác hơn
thông qua những cuộc trao đổi thông tin, trao đổi các đánh giá về các hiện
tượng mà họ quan tâm.
Thông thường
biểu tượng về cái tôi được hình thành theo hướng các thuộc tính tâm lý của con
người như một cá thể được nhận biết sớm hơn các thuộc tính nhân cách. ở giai
đoạn đầu thanh niên rất nhạy cảm với những đặc điểm của hình thức thân thể. Họ
so sánh mình với người khác qua các đặc điểm bên ngoài. Một hiện tượng rất
thường gặp là học sinh cấp III bắt chước thầy cô giáo mà họ yêu quý hay một
người mẫu lý tưởng nào đó mà họ chọn cho mình, từ cách ăn mặc, cử chỉ, dáng đi.
Trong giai đoạn phát triển tiếp theo các đặc điểm nhân cách như ý chí, tình
cảm, trí tuệ, năng lực, mục đích sống... ngày càng có ý nghĩa, tạo nên một hình
ảnh "cái tôi” có chiều sâu, có hệ thống, chính xác và sống động hơn.
Ý thức về cái
tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho thanh niên có khả năng lựa chọn ,con đường
tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị trí cho riêng mình trong
cuộc sống chung.
Nảy sinh cảm
nhận về "tính chất người lớn" của bản thân.
Cảm nhận về
"tính người lớn" của chính bản thân mình là một trong những nét tâm
lý đặc trưng xuất hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi thiếu niên sang tuổi
thanh niên. Thực tiễn cho thấy rằng sự nảy sinh cảm nhận đó ở lứa tuổi thanh
niên là một trong những yếu tố tâm lý góp phần tạo nên những mối quan hệ bất
bình ổn giữa cha mẹ và con cái, làm cho tần số giao tiếp giữa cha mẹ và con cái
giảm xuống và thay vào đó là nhu cầu giao tiếp của thanh niên với bạn đồng lứa
tăng lên.
Bước sang tuổi
thanh niên các em có cảm nhận rõ rệt rằng mình đã lớn hay mình cũng gần giống
người lớn, sắp trở thành người lớn. Ranh giới giữa tuổi thanh niên và tuổi
người lớn trong con mắt của thanh niên không phải bao giờ cũng hiện lên một
cách rõ ràng. Trong quan hệ với trẻ nhỏ tuổi hơn hay trong quan hệ với các bạn
đồng lứa thanh niên có xu hướng cố gắng thể hiện mình như những người đã lớn.
Họ hướng tới các giá trị của người lớn, so sánh mình với người lớn, mong muốn
được tự lập, tự chủ trong giải quyết các vấn đề của riêng họ. Tuy nhiên thực
tiễn cuộc sống đã đưa thanh niên vào một hoàn cảnh đầy mâu thuẫn. So sánh mình
với người lớn, học sinh cấp III hiểu rằng mình vẫn còn nhỏ, còn phụ thuộc. Nếu
như lứa tuổi trước đó sẵn sàng chấp nhận quan hệ người lớn - trẻ con, thì đối
với thanh niên tính chất như vậy trong quan hệ giữa họ với người lớn được họ
coi như là không bình thường. Thanh niên cố gắng khắc phục kiểu quan hệ đó.
Xuất hiện một mâu thuẫn giữa ý muốn chủ quan và hiện thực khách quan: muốn trở
thành người lớn song thanh niên ý thức được rằng mình chưa đủ khả năng. Mâu
thuẫn này đã tạo ra những thay đổi lớn trong lĩnh vực tình cảm của lứa tuổi
thanh niên. Những nghiên cứu về tính cách thanh niên bằng các trắc nghiệm TAT
và Rorschach cho thấy rằng tính hay lo lắng đã tăng từ độ tuổi 12 đến độ tuổi
16. So với các lứa tuổi trước đó mức độ lo lắng trong giao tiếp với mọi người
(với bạn bè, thầy cô giáo, người lớn…) ở lứa tuổi thanh niên cao hơn hẳn và đặc
biệt cao trong giao tiếp với bố mẹ hay với những người lớn mà thanh niên cảm thấy
bị phụ thuộc. Theo thói quen thông thường trong quan hệ với con cái đã bước vào
tuổi thanh niên, các bậc cha mẹ vẫn thường xem họ như những đứa trẻ mà ít chú ý
đến nhu cầu nội tâm của họ. Kiểu quan hệ mang tính sai khiến, áp đặt cứng nhắc
hoặc những biểu hiện tình cảm mẹ - con thái quá đối với lứa tuổi này thường gây
ra những hậu quả không mong đợi. A.E.Litrco - một chuyên gia tâm thán học nổi
tiếng của Liên bang Nga về lứa tuổi thanh niên nhận định rằng lứa.tuổi từ 14
đến 18 là lứa tuổi khủng hoảng đối với tâm thần học. Ở lứa tuổi này các biểu
hiện rối loạn nhân cách tăng lên rõ rệt và trong phần lớn các trường hợp, chúng
có nguồn gốc sâu xa trong các quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ thầy - trò
không thuận lợi.
Trên cơ sở phát triển sinh lý, mức độ chín muồi của quá trình phát triển
các đặc điểm sinh lý giới, sự cảm nhận về tính chất người lớn của bản
thân mình ở thanh niên không phải là một cảm nhận chung chung mà liên quan chặt
chẽ với việc gắn kết mình vào một giới nhất định. Từ nhận thức đó ở
thanh niên nam (nữ) dần dần hình thành những nhu cầu, động cơ, định hướng giá
trị, các quan hệ và các kiểu loại hành vi đặc trưng cho mỗi gia đình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét