Thứ Năm, 20 tháng 10, 2016

CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN SINH LÝ NỮ
Đ.Q.PSY11
Theo các chuyên gia nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cuộc đời phát triển sinh hoạt sinh lý sinh dục nữ được chia làm bốn thời kỳ.
1. THỜI KỲ TRẺ EM (TRƯỚC DẬY THÌ)
Đây có thể xem là giai đoạn “bình yên” nhất về sự biến đổi của hệ sinh lý sinh dục nữ. Bởi trong tuổi thiếu niên, buồng trứng ở phái nữ vẫn trong giai đoạn im lặng về mặt nội tiết, mặc dù về mặt hình thái người ta cũng phát hiện được sự trưởng thành và sự thoái hoá của nang noãn. Tuy vậy, trên thực tế các biến đổi hình thái này không đi kèm với hoạt động nội tiết của buồng trứng. Và cũng trong thời kỳ này không có sự phát triển của nang noãn đến giai đoạn nang trội hoặc hình thành hoàng thể. Sự im lặng của buồng trứng về mặt nội tiết là do sự “chưa chín muồi của vùng dưới đồi”.

2. GIAI ĐOẠN DẬY THÌ

Khi con gái bước vào giai đoạn này thì những chức năng nội tiết của buồng trứng bắt đầu hoạt động khi các tế bào thần kinh sản xuất GnRH của vùng dưới đồi đã có thể bắt đầu giải phóng GnRH một cách đồng bộ và theo xung nhịp vào hệ thống động mạch cửa tuyến yên. Do đó, các bộ phận sinh lý sinh dục nữ thời kỳ này bắt đầu phát triển một cách toàn diện.
- Sự phát triển của bầu vú
Nội tiết tố nữ Estrogen bắt đầu được chế tiết từ buồng trứng có tác dụng lâm sàng thấy được đầu tiên thông qua sự phát triển vú. Lúc này, trên cơ thể của nữ giới có núm vú nổi rõ, tiếp theo là sự phát triển mô tuyến vú, tăng sinh biểu mô ống tuyến và thuỳ tuyến dưới tác dụng của estrogen và prolactin.
- Sự phát triển lông mu
Một trong những đặc điểm sinh lý nổi bật thời kỳ này của nữ giới đó chính là sự phát triển của lông mu. Tiếp sau vú là sự phát triển lông mu và lông nách, chủ yếu là dưới tác dụng của androgen. Các androgen này một phần có nguồn gốc buồng trứng, một phần từ tuyến thượng thận và một phần thông qua chuyển hoá ở ngoại vi.
- Sự tăng trưởng cơ thể
Ngoài sự phát triển về các bộ phận sinh dục thì khoảng một năm sau khi dấu hiệu dậy thì đầu tiên sẽ xuất hiện sự tăng trưởng cơ thể mạnh mẽ. Các steroid sinh dục tác dụng trên tuyến yên làm gia tăng mạnh sự chế tiết các nội tiết tố tăng trưởng cũng như tăng chế tiết IGF-1 tại gan. Trong điều kiện này chiều cao có thể tăng lên mức tối đa 10 cm trong mỗi năm . Sau đó nồng độ các nội tiết tố vẫn tiếp tục tăng và có tác dụng trực tiếp lên các vùng phát triển của sụn. Cuối cùng là sự cốt hoá và kết thúc quá trình tăng trưởng chiều cao.
- Xuất hiện chu kỳ kinh nguyệt
Đây cũng được xem là dấu hiệu phát triển cơ bản của hệ sinh lý sinh dục nữ giới. Và dấu hiệu này sẽ diễn ra vào khoảng một năm sau sự tăng trưởng dậy thì. Trên nguyên tắc cần xem chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên này là hậu quả của sự sụt giảm estrogen đơn thuần do không có hiện tượng phóng noãn. Về sau sẽ xuất hiện các chu kỳ kinh có phóng noãn với sự hình thành và hoạt động của hoàng thể.
- Sự thay đổi cơ quan sinh dục
Dưới ảnh hưởng của các nội tiết tố sinh dục sẽ xuất hiện các biến đổi tương ứng của bộ phận sinh lý sinh dục nữ trong và ngoài. Độ dài âm đạo tăng dần đến khoảng 11 cm. Biểu mô âm đạo tăng sinh và dày lên. Do gia tăng khuẩn chí Lactobacillus lưu trú, pH âm đạo sẽ giảm xuống dưới 4,0. Môi lớn và môi nhỏ dày lên, vùng gò mu tập trung nhiều mỡ, âm vật cũng to ra.

3. THỜI KỲ HOẠT ĐỘNG SINH DỤC

Tiếp theo tuổi dậy thì là thời kỳ hoạt động sinh dục, kéo dài đến khi mãn kinh. Trong thời kỳ này, người phụ nữ thường hành kinh đều đặn, tỉ lệ vòng kinh có phóng noãn tăng lên do hoạt động nội tiết của trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng đã được hoàn chỉnh. Và các bộ phận sinh dục thời kỳ này đã hoàn thiện về mặt chức năng và giúp cho người phụ nữ có thể thụ thai được.
Trong thời kỳ này, các tính chất của các bộ phận sinh lý sinh dục phụ cũng như toàn cơ thể của người phụ nữ vẫn tiếp tục phát triển đến mức tối đa. Thời kỳ hoạt động sinh dục kéo dài 30 – 35 năm.

4. THỜI KỲ MÃN KINH

Đặc điểm sinh lý mãn kinh là tình trạng không còn hành kinh của người phụ nữ. Nếu một thiếu nữ chưa hành kinh là do vùng dưới đổi hoạt động chưa chín muồi, thì một người phụ nữ không hành kinh ở tuổi mãn kinh là do buồng trứng đã suy kiệt, không còn nhạy cảm trước sự kích thích của các hormon hướng sinh dục, nên không còn chế tiết đủ hormon sinh dục. Kể từ khi mãn kinh, người phụ nữ không còn khả năng có thai nữa.
Những thông tin về các giai đoạn phát triển bộ phận sinh lý sinh dục nữ sẽ giúp cho bạn hiểu rõ được những vấn đề thay đổi của cơ thể mình. Nhờ đó, việc bạn đối mặt với những thay đổi đó sẽ không bị bối rối nữa. Những thay đổi sinh lý này bao giờ cũng kéo theo sự thay đổi về tâm lý, những thay đổi tâm lý sẽ được trình bày ở bài sau mong bạn đọc lưu tâm.


Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2016

Hôn nhân muốn được bền vững thì không chỉ xuất phát từ phía người chồng hay người vợ, mà nó phải là sự nỗ lực từ cả hai phía. Các bạn có thể tham khảo một số thủ pháp tâm lý sau:
ĐQ. PSY11
1. Đẹp trong tâm hồn
“Lạt mềm buộc chặt”, rộng lòng bao dung, kết nối sâu sắc, dịu dàng, giao thiệp khéo léo.. là những điều cần phải có trong cuốn sổ tay của người vợ “khôn”. Nghe thì dễ nhưng để có thể áp dụng tất cả những điều này trong đời sống vợ chồng là điều không dễ dàng.
Mối quan hệ hời hợt. Các chuyên gia tâm lý đã chỉ ra một lý do khiến các cặp vợ chồng đổ vỡ đó là họ không có khả năng giao tiếp tốt với nhau. Vợ chồng phải có sự gắn kết, 2 tâm hồn đồng điệu mới có thể duy trì hạnh phúc trong một căn nhà. Tuy nhiên, tất cả điều này phụ thuộc rất nhiều ở người vợ. Nếu như đàn ông chinh chiến ngoài thương trường thì đàn bà lại là người “cầm cương” trong gia đình. Người đàn bà khôn ngoan luôn biết cách tạo hơi ấm bằng chính vẻ đẹp của tâm hồn. Người phụ nữ ấy phải thấu hiểu và tâm lý, bao dung với những lỗi lầm, luôn bình tĩnh giải quyết mọi vấn đề xảy ra trong gia đình, là hậu phương vững chắc cho người chồng, người con tìm tới mỗi khi lỡ bước. Biết khéo léo "tâng bốc" chồng Một bí quyết của người vợ thông minh đó là không ngừng "tâng bốc" chồng. Chẳng hạn, bạn luôn muốn chồng có những cử chỉ lãng mạn cho mình như thuở đang yêu, mỗi lần nhận được hoa, quà của anh ấy, đừng tiết kiệm những lời khen có cánh cho những gì mình nhận được và không quên ca ngợi chồng: "Anh quả là người tâm lý", "Làm gì có người nào chu đáo như chồng em thế này". Chồng bạn sẽ thấy những hành động của mình không chỉ được ghi nhận mà còn được đánh giá cao. Và anh ấy sẽ không ngần ngại làm nhiều điều tương tự cho bạn. Làm đẹp cho bản thân
2.    Rộng lòng và biết chia sẻ cảm xúc 
Không ai có thể đọc được suy nghĩ của người khác. Ngay cả khi hai người đã ngầm yêu nhau và hiểu được giá trị của người kia trong lòng mình, nhưng vẫn phải có một người mở lời trước để bày tỏ tình cảm. Học cách bỏ qua những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống thường nhật, còn đối với những điều quan trọng khiến bạn phải băn khoăn thì đừng e ngại mà hãy nói ra cho đối phương hiểu. Nếu bạn cứ ôm khư khư điều khó chịu đó trong lòng rồi vẫn mong người ấy biết và chia sẻ với bạn, thì điều đó chỉ làm tổn thương chính bạn mà thôi. Chia sẻ cảm xúc, cũng như suy nghĩ của bản thân là một cách giúp mối quan hệ của bạn được lâu bền.
3.   Nên thành thật
          Bạn không thể lừa dối bạn đời của mình cả về tình cảm lẫn thể chất. Không thích là không thích, yêu là yêu, đừng vì một lý do nào đó mà để bản thân phải trở thành kẻ dối trá. Thử nghĩ xem, liệu bạn có thể duy trì hôn nhân bền lâu nếu lúc nào trong tâm tưởng của bạn cũng có những lời nói dối hoặc những câu chuyện bịa đặt? Nếu bạn quyết định gắn bó với một người và muốn mối quan hệ đó là duy nhất trong đời thì bạn cần phải trung thành với nó. Bạn không thể mong đợi người chồng của bạn yêu thương, tin tưởng bạn ngay cả khi bạn đang là người lừa dối.
4. Biết nấu ăn ngon
Nấu ăn ngon Nữ công gia chánh là trách nhiệm của người phụ nữ. Con đường ngắn nhất để đến tình yêu của người đàn ông là qua dạ dày, do đó bạn cần phải chú trọng quan tâm đến việc bếp núc trong gia đình để cho căn nhà luôn ấm cúng. Đàn ông sẽ không thể ra ngoài “ăn phở” nếu như người phụ nữ của họ nấu ăn ngon và biết cách chiều chồng.
5. Biết chi tiêu thông minh và tiết kiệm
Tiền bạc là một trong những nguyên nhân hàng đầu của xung đột trong hôn nhân. Vì vậy, hãy là một người vợ biết chi tiêu thông minh và tiết kiệm. Nếu bạn là cô dâu mới, đừng ngại học hỏi kinh nghiệm chi tiêu từ bạn bè, chị em mình... và cân nhắc các kế hoạch chi tiêu sao cho hài hòa nhất với thu nhập của hai người. Bạn sẽ không thể áp dụng cách chi tiêu của người khác vào nhà mình, song việc tham khảo kinh nghiệm mua sắm cho con, tiêu tết, tiền biếu xén bố mẹ, quà cáp nội ngoại... bạn sẽ rút ra được việc quản lý tiền bạc hợp lý nhất. Đây cũng là việc cần làm để đẩy lùi nguy cơ biến tiền nong trở thành mâu thuẫn trong gia đình bạn. Những kế hoạch tưởng như không quan trọng nhưng lại có tác dụng tăng cường tình yêu và refresh mối quan hệ vốn đã quen thuộc và cũ kĩ của hai người sau một thời gian chung sống. Không ngừng hẹn hò với nhau Thông thường, khi đã kết hôn, chẳng ai còn nghĩ đến chuyện hẹn hò như thuở đang yêu nữa. Và đó cũng là nguyên nhân hàng đầu khiến hôn nhân trở nên nhàm chán, khô cứng. Nếu bạn mong muốn luôn nhận được sự lãng mạn, thú vị như thời đang yêu, bạn cần nỗ lực vì điều đó. Và bí quyết đưa ra là các cặp vợ chồng nên dành một chút thời gian mỗi tuần, mỗi tháng để đều đặn hẹn hò với nhau.
6. Nên duy trì bữa cơm gia đình
Chẳng phải ngẫu nhiên mà khi muốn xem một gia đình có ấm áp hay không, đầu tiên người ta đi vào phòng bếp của gia đình đó. "Thực tế hiện nay, có những gia đình cả tuần không nổi lửa, cơm mua ở quán để đỡ mất thời gian nấu nướng, thậm chí đến nước cũng không nấu vì chỉ uống nước lọc đóng bình. Nếu người phụ nữ giải phóng mình khỏi bếp núc, thì sớm muộn cũng giải phóng luôn cả nhà của mình". Biết tận hưởng lạc thú của hôn nhân Một bữa cơm ngon buổi tối không chỉ là một bữa cơm ngon, mà dư vị của nó còn kéo dài tới đêm. Cơm chiều phải vui thì buổi tối mới hạnh phúc. Người chồng được ăn ngon, khỏe mạnh thì chuyện chăn gối mới vui vẻ. Nhiều chị em hay ngại ngùng hoặc né tránh chuyện chăn gối, theo chuyên gia đây là điều rất đáng tiếc. Nếu tuổi đời còn trẻ, sức khỏe còn dồi dào, tại sao bạn lại không tận hưởng những lạc thú của hôn nhân? Còn khi về già, vợ chồng sẽ gắn bó với nhau theo cách khác. Nếu đầu giường của vợ chồng trẻ là nến, là hoa thì đầu giường của các cặp vợ chồng già là lọ dầu gió, là máy đo huyết áp. "Dù thế nào cũng không nên ngủ riêng".



SỰ NẢY SINH HÌNH THÀNH TÂM LÝ NGƯỜI Ở PHƯƠNG DIỆN TIẾN HÓA CHỦNG LOẠI VÀ TIẾN HÓA CÁ THỂ
TS Đ.Q Psy11
Tâm lý, ý thức là kết quả của sự phát triển lâu dài của vật chất. Sự nảy sinh, phát triển tâm lý, ý thức gắn liền với sự sống. Xét về mặt tiến hóa chủng loại thì tâm lý, ý thức nảy sinh và phát triển qua 3 giai đoạn lớn:
-        Từ vật chất chưa có sự sống phát triển thành vật chất có sự sống.
-        Từ sinh vật chưa có cảm giác phát triển thành sinh vật có cảm giác và các hiện tượng tâm lý khác nhưng chưa có ý thức.
-        Từ động vật cấp cao chưa có ý thức phát triển thành người, thành chủ thể đã có ý thức.
1.     Sự nảy sinh và hình thành tâm lý về phương diện chủng loại
Ở những loài sinh vật dưới mức côn trùng (các loài nguyên sinh, bọt bể…) chưa có tế bào thần kinh hoặc nếu có đi chăng nữa thì mạng thần kinh phân tán khắp cơ thể và chỉ mới có tính chịu kích thích. Tính chịu kích thích là khả năng đáp trả lại các kích thích của môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của cơ thể. Đây là cơ sở cho tính cảm ứng (nhạy cảm) xuất hiện.
Phản ánh tâm lý đầu tiên được nảy sinh dưới hình thái nhạy cảm (tính cảm ứng). Trên cơ sở tính chịu kích thích, ở một số loài côn trùng như: giun, ong… bắt đầu xuất hiện hệ thần kinh mấu (hạch). Tính nhạy cảm được xem là mầm mống đầu tiên của tâm lý. Từ hiện tượng tâm lý đơn giản nhất này (cảm giác) phát triển lên thành các hiện tượng tâm lý phức tạp hơn.
 Sự phát triển tâm lý của con người đã trải qua 3 thời kỳ cơ bản: cảm giác, tri giác, tư duy (bằng tay và ngôn ngữ). Tuy nhiên xét theo nguồn gốc nảy sinh hành vi thì 3 thời kỳ đó là: bản năng, trí tuệ và kỹ xảo.
Cảm giác là thời kỳ đầu tiên trong phản ánh tâm lý có ở động vật không xương sống. Ở thời kỳ này, con vật chỉ mới đáp trả từng kích thích riêng lẽ. Ở động vật bậc cao và con người cũng có thời kỳ cảm giác nhưng cảm giác này khác so với cảm giác của loài vật.
Tri giác bắt đầu xuất hiện ở loài cá. Hệ thần kinh hình ống với tủy sống và vỏ não giúp cho động vật từ loài cá trở đi có thể đáp trả lại tổ hợp các kích thích của môi trường. Từ loài lưỡng cư, bò sát, chim đến động vật có vú thì tri giác đạt đến mức độ hoàn chỉnh nhưng tri giác của con người thì phát triển hơn cả.
Thời kỳ tư duy được chia làm hai giai đoạn: tư duy bằng tay và tư duy bằng ngôn ngữ. Cách nay khoảng hơn 10 triệu năm, loại vượn Oxtralopitec có võ não phát triển, đã biết dùng hai bàn tay để sờ mó, láp ráp, giải quyết các tình huống cụ thể trước mặt, loại tư duy này được gọi là tư duy bằng tay hay tư duy cụ thể. Ở con người, tư duy bằng ngôn ngữ mới phát triển. Nhờ tư duy bằng ngôn ngữ mà hoạt động của con người có tính mục đích, có tính kế hoạch cao nhất và hoàn chỉnh nhất từ đó con người không chỉ nhận thức và cải tạo thế giới mà còn có thể tự nhận thức và điều chỉnh bản thân.
Theo cách tiếp cận nảy sinh hành vi thì từ loài côn trùng trở đi bắt đầu có hành vi bản năng. Bản năng là những hành vi bẩm sinh, mang tính di truyền, có cơ sở sinh lý là phản xạ vô điều kiện và mang tính ổn định của loài. Các loài động vật có xương sống và con người cũng có bản năng. Tuy nhiên, bản năng của con người chịu sự chi phối của ý thức, có sự tham gia của tư duy, mang tính xã hội và mang đặc điểm lịch sử loài người.
Thời kỳ kỹ xảo xuất hiện sau thời kỳ bản năng trên cơ sở luyện tập. Hành vi kỹ xảo được lặp đi lặp lại nhiều lần và dần định hình trong não động vật.
Thời kỳ hành vi trí tuệ là kết quả của sự luyện tập, do cá thể tự tạo trong đời sống. Hành vi trí tuệ của vượn người chủ yếu tập trung giải quyết các tình huống cụ thể có liên quan đến việc thỏa mãn các nhu cầu mang tính bản năng của cơ thể. Hành vi trí tuệ của con người được nảy sinh thông qua hoạt động, được xem là sản phẩm của hoạt động nhằm nhận thức bản chất, mối quan hệ có tính quy luật, thích ứng và cải tạo thế giới khách quan. Hành vi trí tuệ của con người gắn liền với ngôn ngữ và ý thức.
2.     Các giai đoạn phát triển tâm lý người về phương diện cá thể
Sự phát triển tâm lý của con người từ lúc sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn có những đặc trưng cơ bản và ảnh hưởng khác nhau đến sự phát triển tâm lý của cá nhân. Vì thế, việc phân định chính xác các giai đoạn phát triển tâm lý người, nhận biết các dấu hiệu đặc trưng, tìm hiểu vai trò, quy luật phát triển, cơ chế chuyển tiếp giữa các giai đoạn… có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn.
Giai đoạn phát triển tâm lý là một trong những vấn đề quan trọng trong Tâm lý học được nhiều nhà tâm lý học trên thế giới quan tâm (L.X. Vugotxki, A.N. Leonchiev, D.B. Elkonin, H.Walon, J.Piaget… Theo L.X. Vugotxki, giai đoạn phát triển là thời kỳ hay mức độ phát triển nhất định đóng kín một cách tương đối, đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình phát triển chung, trong đó những quy luật phát triển được thể hiện một cách độc đáo khác về chất so với các thời kỳ khác.
J.Piaget thì cho rằng, giai đoạn phát triển tâm lý là những hình thức tổ chức hoạt động tâm lý dưới 2 khía cạnh thống nhất với nhau, một mặt là khía cạnh vận động hoặc trí tuệ, mặt kia là cảm xúc, cũng như xác định theo 2 chiều:cá nhân và xã hội.
A.N.Leonchiev và D.B.Elconin căn cứ vào hoạt động và hoạt động chủ đạo để phân chia các giai đoạn phát triển. D.B.Elconin cho rằng, từ lúc ra đời cho đến khi trưởng thành, sự phát triển tâm lý của trẻ em trải qua những giai đoạn có chất lượng riêng, kế tiếp nhau. Mỗi giai đoạn được tính theo mối quan hệ nào của trẻ với thực tại là chủ đạo, loại hoạt động nào là chủ đạo. Vậy hoạt động chủ đạo là gì?
 Hoạt động chủ đạo là hoạt động đặc trưng cho trẻ em ở mỗi giai đoạn lứa tuổi, có tác dụng tạo ra những nét tâm lý mới làm nảy sinh các nhu cầu, hứng thú chủ yếu của trẻ ở lứa tuổi đó.
Các loại hoạt động chủ đạo
STT
GIAI ĐOẠN
ĐỘ TUỔI
HOẠT ĐỘNG CHỦ ĐẠO/HOẠT ĐỘNG
1
Hài nhi
0 – 1
Hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn
2
Ấu nhi
1 – 3
Hoạt động với đồ vật
3
Mẫu giáo
3 – 6
Hoạt động vui chơi (trò chơi sắm vai có chủ đề)
4
Học sinh nhỏ
6 - 10,11
Hoạt động học tập
5
Thiếu niên
10, 11-14,15
Hoạt động giao lưu tâm tình
6
Thanh niên mới lớn
14,15-17,18
Hoạt động học tập, hướng nghiệp
7
Tuổi sinh viên
19 - 22,25
Học tập, trang bị tri thức, kỹ năng nghề nghiệp
8
Người trưởng thành trẻ tuổi
25 – 40
Lập nghiệp, lập thân
9
Tuổi trung niên
40 – 60
Lao động, chăm lo cho con cái, phụng dưỡng cha mẹ
10
Tuổi già
>60
Nghỉ ngơi, hoài niệm về quá khứ

Sự phát triển tâm lý của cá nhân có thể được xác định từ giai đoạn “thai giáo” đến giai đoạn tuổi già. Tuy nhiên, giai đoạn “thai giáo” đang có rất nhiều quan điểm khác nhau và chưa đi đến thống nhất, vì thế sự phát triển tâm lý của cá nhân sẽ được xác định từ sơ sinh cho đến tuổi già và được cụ thể hóa như sau:
-        Hài nhi (0-1 tuổi)
-        Ấu nhi (1-3 tuổi
-        Mẫu giáo (3-6 tuổi)
-        Học sinh nhỏ (6-10, 11 tuổi)
-        Thiếu niên (10,11-15 tuổi)
-        Thanh niên mới lớn (14,15-18 tuổi)
-        Tuổi sinh viên (19-22, 25 tuổi)
-        Người trưởng thành trẻ tuổi (22,25-40 tuổi)
-        Tuổi trung niên (40-60 tuổi)
-        Tuổi già (> 60 tuổi)


Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

SP
NÂNG CAO CẢNH GIÁC PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH’’
Diễn biến hòa bình là chiến lược toàn cầu, phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc chủ mưu thực hiện nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên toàn cầu, không cần chiến tranh, không cần tiếng súng. Hay nói cách khác đó là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ CNXH, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và chế độ chính trị ở Việt Nam. Thủ đoạn của chúng là tập trung đòi phi chính trị hóa Quân đội nhân dân và công an nhân dân, tách lực lượng này khỏi sự lãnh đạo của Đảng ,làm suy yếu và tước đi công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và nhà nướcta.  Bản chất âm mưu thâm độc của chúng là tập trung vào xuyên tạc chủ nghĩa Mác lê nin , tư tưởng Hồ chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển lực lượng chống đối ở nước ngoài và trong nước , xúi dục các thành phần cơ hội các phần tử phản động, bất mãn, hình thành các tổ chức đối lập về chính trị, đấu tranh đòi đa nguyên đa Đảng dưới chiêu bài đòi dân chủ, xuyên tạc vu cáo đường lối quan quan điểm của Đảng và nhà nước ta, phá hoại hệ tư tưởng và sự đoàn kết trong Đảng, kích động gây chia rẽ quần chúng nhân dân với Đảng.Cùng với các thủ đoạn nham hiểm, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tìm mọi cách xuyên tạc bôi nhọ bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội, chia rẽ tình đoàn kết máu thịt giữa quân đội và nhân dân, nhằm vô hiệu hóa công cụ bạo lực của Đảng. Mục đích nhằm lật đổ chính quyền, thiết lập chính quyền mới phản động, đồng thời kêu gọi nước ngoài can thiệp tạo cớ cho sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.
Nhận thức rõ bản chất âm mưu thủ đoạn thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chúng ta phải:
Một là thường xuyên xây dựng bản lĩnh chính trị cho cán bộ chiến sỹ, giúp họ đủ để đề kháng, miễn dịch và ứng phó với mọi tình huống phức tạp của thực tiễn hoạt động chính trị, nhất là trong đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình, không bị mắc mưu, bị lừa bịp trước trước những thông tin sai trái, độc hại do các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị gây ra.
Hai là tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo công tác tư tưởng và xây dựng môi trường văn hóa trong sạch lành mạnh, làm cho cán bộ chiến sỹ nhận thức sâu sắc bản chất, âm mưu hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt nam. Nhất là tính chất nguy hại của hoạt động phá hoại về tư tưởng, thường xuyên thông tin tình hình hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, định hướng kịp thời trước các sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, nhà nước, quân đội. Tạo sự đồng thuận cao trong cán bộ chiến sỹ, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.
Ba là Tổ chức tốt công tác giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự, nâng cao sức mạnh chiến đấu, thường xuyên nâng cao đời sống tinh thần cho bộ đội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao trình độ nhận thức để xây dựng phẩm chất cách mạng, lối sống trong sạch, ngăn ngừa và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, những hiện tượng tiêu cực từ bên ngoài xã hội lây lan vào nội bộ quân đội. Xây dựng những giá trị văn hóa, đạo đức lối sống cao đẹp của người quân nhân cách mạng, để tự mỗi người có sức đề kháng, miễn dịch trước những tác động của lối sống thấp hèn từ các loại văn hóa độc hại và các giá trị đạo đức theo kiểu phương tây.
Bốn là làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác giáo dục quản lý cán bộ Đảng viên, quản lý chiến sỹ, công nhân viên quốc phòng, cụ thể là quản lý tốt mối quan hệ xã hội, sinh hoạt, kinh tế, ý thức tổ chức kỷ luật của từng quân nhân.Kiên quyết loại khỏi quân đội những kẻ biến chất về chính trị, tha hóa về phẩm chất đạo đức,tham nhũng cơ hội. Tập trung xây dựng đơn vị an toàn địa bàn an toàn. Thường xuyên giáo dục cho mọi người có ý thức cảnh giác cao, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.


CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN MÃI MÃI LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Psy33hvlq81
Trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH của nước ta, các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”… bằng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua con đường ngoại giao, hợp tác kinh tế, đầu tư… thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội. Chúng tiến hành chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp, còn thế kỷ XXI là thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa nên đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua; hoặc cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam, rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”. Hoặc cho rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chứng tỏ “chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai”.
Nhìn lại lịch sử, trước khi chủ nghĩa Mác- Lênin xuất hiện ở Việt Nam. những phong trào giải phóng dân tộc như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận động của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học đều thất bại. Nhưng kể từ khi Bác Hồ đem chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc bước sang trang mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh nước ta đã giành được chính quyền từ tay đế quốc và tuyên bố thành lập nước Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tiếp theo là chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954 trước thực dân Pháp sau khi Pháp trở lại Đông Dương năm 1946. Sau đó là cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài hơn 30 năm, kết cục là Mỹ đã rút khỏi Việt Nam sau khi Hiệp định Hòa bình Paris được kí kết vào tháng 01 năm 1973 và chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.
Thực tế đã và đang khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững của nó. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài thuyết trình, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của Các Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào Các Mác mới có thể phân tích đúng chủ nghĩa tư bản đương đại.
 Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vào năm 1927, Hồ Chí Minh đã viết: “…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, chủ nghĩa Mác-Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sác-lơ Phuốc-niô ngày 15-7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác-Lênin”.
 Đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, Đảng ta tiếp tục kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động. Đối với nước ta, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin được thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua việc truyền bá, vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong từng giai đoạn, làm cho học thuyết này luôn tràn đầy sức sống trên mảnh đất hiện thực Việt Nam.


Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Tìm hiểu thêm về sự phát triển tâm lý người
 từ phương diện tiến hóa chủng loại
Ở loài người, sự phát triển vượt bậc về tâm lý được thúc đẩy bởi ba thành tựu cơ bản của cả nhân loại: việc chế tạo công cụ lao động; sự sản xuất các đối tượng văn hóa vật chất và tinh thần; sự xuất hiện ngôn ngữ và lời nói.
          Vấn đề nguồn gốc nảy sinh, hình thành, phát triển tâm lý, ý thức xét cả về phương diện loài người (phát triển loài) và cả phương diện riêng của từng người (phát triển cá thể) là một trong những vấn đề cơ bản của tâm lý học. Tâm lý, ý thức là kết quả sự phát triển lâu dài của vật chất. Sự sống ra đời cách đây khoảng 2500 triệu năm. Sự nảy sinh, phát triển tâm lý, ý thức gắn liền với sự sống. Xét về mặt tiến hoá chủng loại thì tâm lý, ý thức nảy sinh và phát triển qua ba giai đoạn lớn:
- Từ vật chất chưa có sự sống (vô sinh) phát triển thành vật chất có sự sống (hữu sinh);
- Từ sinh vật chưa có cảm giác phát triển thành sinh vật có cảm giác và các hiện tượng tâm lý khác, không có ý thức;
- Từ động vật cấp cao không có ý thức phát triển thành người, thành chủ thể có ý thức.
Tâm lý, ý thức là kết quả của sự phát triển lâu dài củavật chất. Sự nảy sinh, phát triển tâm lý, ý thứcgắn liền với sự sống. Xét về mặt tiến hóa chủng loại thì tâm lý, ý thức nảy sinh và phát triển qua 3 giai đoạnlớn:
- Từ vật chất chưa có sự sống phát triển thành vật chất có sự sống.
- Từ sinh vật chưa có cảm giác phát triển thành sinh vật có cảm giác và các
hiện tượng tâm lý khác nhưng chưa có ý thức.
- Từ động vật cấp cao chưa có ý thức phát triển thành người, thành chủ thể đã có ý thức.
1. Sny sinh và hình thành tâm lý vphương din loài người
Ở những loài sinh vật dưới mức côn trùng (các loài nguyên sinh, bọt bể…) chưa có tế bào thần kinh hoặc nếu có đi chăng nữa thì mạng thần kinh phân tán khắp cơ thể và chỉ mới có tính chịu kích thích. Tính chịu kích thích là khả năng đáp trả lại các kích thích của môi trường ảnh hưởng trực tiếp đếnsự tồntại và phát triển củacơ thể. Đây là cơ sở cho tính cảm ứng (nhạy cảm) xuất hiện.
Phản ánh tâm lý đầu tiên đượcnảy sinh dưới hình thái nhạy cảm (tính cảm ứng). Trên cơ sở tính chịu kích thích, ở một số loài côn trùng như: giun, ong… bắt đầu xuất hiện hệ thần kinh mấu (hạch). Tính nhạy cảm được xem là mầm mống đầu tiên của tâm lý. Từ hiện tượng tâm lý đơn giản nhất này (cảm giác) phát triển lên thành các hiện tượng tâmlý phứctạphơn.
Sự phát triển tâm lý của con người đã trải qua 3 thời kỳ cơ bản: cảm giác, tri giác, tư duy (bằng tay và ngôn ngữ). Tuy nhiên xét theo nguồn gốc nảy sinh hành vi thì 3 thời kỳ đó là: bản năng, trí tuệ và kỹ xảo.
Cảm giác là thời kỳ đầu tiên trong phản ánh tâm lý có ở động vật không xương sống. Ở thời kỳ này, con vật chỉ mới đáp trả từng kích thích riêng lẽ. Ở động vật bậc cao và con người cũng có thời kỳ cảm giác nhưng cảm giác này khác so với cảm giác của loài vật.
Tri giác bắt đầu xuất hiện ở loài cá. Hệ thần kinh hình ống với tủy sống và vỏ não giúp cho động vật từ loài cá trở đi có thể đáp trả lại tổ hợp các kích thích của môi trường. Từ loài lưỡng cư, bò sát, chim đến động vật có vú thì tri giác đạt đến mức độ hoàn chỉnh nhưng tri giác của con người thì phát triển hơn cả.
Thời kỳ tư duy được chia làm hai giai đoạn: tư duy bằng tay và tư duy bằng ngôn ngữ. Cách nay khoảng hơn 10 triệu năm, loại vượn Oxtralopitec có vỏ não phát triển, đã biết dùng hai bàn tay để sờ mó, láp ráp, giải quyết các tình huống cụ thể trước mặt, loại tư duy này được gọi là tư duy bằng tay hay tư duy cụ thể. Ở con người, tư duy bằng ngôn ngữ mới phát triển. Nhờ tư duy bằng ngôn ngữ mà hoạt động của con người có tính mục đích, có tính kế hoạch cao nhất và hoàn chỉnh nhất từ đó con người không chỉ nhận thức và cải tạo thế giới mà còn có thể tự nhận thức và điều chỉnh bản thân.
Theo cách tiếp cận nảy sinh hành vi thì từ loài côn trùng trở đi bắt đầu có hành vi bản năng. Bản năng là những hành vi bẩm sinh, mang tính di truyền, có cơ sở sinh lý là phản xạ vô điều kiện và mang tính ổn định của loài. Các loài động vật có xương sống và con người cũng có bản năng. Tuy nhiên, bản năng của con người chịusự chi phối của ý thức, có sự tham gia của tư duy, mang tính xã hội và mang đặc điểm lịch sử loài người.
Thời kỳ kỹ xảo xuất hiện sau thời kỳ bản năng trên cơ sở luyện tập. Hành vi kỹ xảo được lặp đi lặp lại nhiều lần và dần định hình trong não động vật.
Thời kỳ hành vi trí tuệ là kết quả của sự luyện tập, do cá thể tự tạo trong đời sống. Hành vi trí tuệ của vượn người chủ yếu tập trung giải quyết các tình huống cụ thể có liên quan đến việc thỏa mãn các nhu cầu mang tính bản năng của cơ thể. Hành vi trí tuệ của con người được nảy sinh thông qua hoạt động, được xem là sản phẩm của hoạt động nhằm nhận thức bản chất, mối quan hệ có tính quy luật, thích ứng và cải tạo thế giới khách quan. Hành vi trí tuệ của con người gắn liền với ngôn ngữ và ý thức.
2. Các giai đon phát trin tâm lý người vphương din cá th
Sự phát triển tâm lý của con ngườitừ lúc sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn có những đặc trưng cơ bản và ảnh hưởng khác nhau đếnsự phát triển tâm lý của cá nhân. Vì thế, việc phân định chính xác các giai đoạn phát triển tâm lý người, nhận biết các dấu hiệu đặc trưng, tìm hiểu vai trò, quy luật phát triển, cơ chế chuyển tiếp giữa các giai đoạn… có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn.
Giai đoạn phát triển tâm lý là một trong những vấn đề quan trọng trong Tâm lý học được nhiều nhà tâm lý học trên thế giới quan tâm (L.X. Vugotxki, A.N. Leonchiev, D.B. Elkonin, H.Walon, J.Piaget… Theo L.X. Vugotxki, giai đoạn phát triển là thời kỳ hay mức độ phát triển nhất định đóng kín một cách tương đối, đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình phát triển chung, trong đó những quy luật phát triển được thể hiệnmột cách độc đáo khác về chất so với các thời kỳ khác.
J.Piaget thì cho rằng, giai đoạn phát triển tâm lý là những hình thức tổ chức hoạt động tâm lý dưới 2 khía cạnh thống nhấtvới nhau, một mặt là khía cạnh vận động hoặc trí tuệ,mặt kia là cảm xúc, cũng như xác định theo 2 chiều: cá nhân và xã hội.
A.N.Leonchiev và D.B.Elconin căn cứ vào hoạt động và hoạt động chủ đạo để phân chia các giai đoạn phát triển. D.B.Elconin cho rằng, từ lúc ra đời cho đến khi trưởng thành, sự phát triển tâm lý của trẻ em trải qua những giai đoạn có chất lượng riêng, kế tiếp nhau. Mỗi giai đoạn được tính theo mối quan hệ nào của trẻ với thực tại là chủ đạo, loại hoạt động nào là chủ đạo. Vậy hoạt động chủ đạo là gì?  Hoạt động chủ đạo là hoạt động đặc trưng cho trẻ em ở mỗi giai đoạn lứa tuổi, có tác dụng tạo ra những nét tâm lý mới làm nảy sinh các nhu cầu, hứng thú chủ yếu của trẻ ở lứa tuổi đó.
Hiểu sự phát triển tâm lý người từ phư­ơng diện tiến hoá chủng loại?
* Các cấp độ phản ánh
- Phản ánh vô cơ
- Phản ánh sinh lý: Tính chịu kích thích
- Phản ánh tâm lý: Phản ứng với các kích thích có tính chất tín hiệu: tính nhạy cảm
* Các thời kỳ phát triển tâm lý
- Theo mức độ phản ánh
+ Thời kỳ cảm giác: Thời kỳ đầu tiên trong phản ánh tâm lý
+ Thời kỳ tri giác: Thời kỳ tiếp theo…
+ Thời kỳ tư duy: Bằng tay sau đó là tư duy bằng ngôn ngữ
- Theo nguồn gốc nảy sinh hành vi
+ Hành vi bản năng: Truyền lại theo di truyền
+ Hành vi kỹ xảo: Hành vi tập thành trong đời sống cá thể
+ Hành vi trí tuệ: Hành vi do sinh vật tự tạo trong cuộc sống
Đ.Q.Psy11


Cha mẹ cần biết khi con đã là người lớn
 Đó là khoảng tuổi từ 11-12 tới 18-20. Một khung tuổi không cứng nhắc, vì có nhiều người do hoàn cảnh đã phải ra đời rất sớm và trưởng thành rất sớm, nhưng cũng có những người suốt đời vẫn chưa ra khỏi tuổi dậy thì.
Tuổi trẻ chống đối, tuổi trẻ nổi loạn. Nhưng đâu phải lúc nào những người lớn cũng có lý!

Quá khứ và hoàn cảnh gia đình
Tuổi dậy thì giống như một con tôm đang thay vỏ. Giọng nói biến đổi, thân hình lớn lên nhưng cử chỉ lại ngượng ngùng… Không chỉ thế, tâm lý cũng thay đổi. Cháu đang bỏ cái vỏ trẻ con để mang lấy cái vỏ người lớn. Thì chính lúc này là lúc cháu yếu đuối nhất, cần được giúp đỡ nhất. Vỏ cũ bỏ đi, vỏ mới chưa được cứng rắn, cháu càng dễ tổn thương. Đó là một tiến trình rất tế nhị nhưng bình thường của cuộc đời.
Trước tiên, cháu phải thừa hưởng hình ảnh một người con trong đầu óc của cha mẹ. Và có thể là hình ảnh của cả một gia tộc. Những ước mơ, những kỳ vọng của ông bà, của cha mẹ đã được phóng chiếu trên người cháu.
Đến nỗi, có nhà tâm lý học nổi tiếng đã nói: "Mọi chuyện đã xong xuôi trước khi bé lên 6". Nói như thế là để nhấn mạnh tầm quan trọng của cha mẹ khi các cháu còn bé, khi còn đang ở những giai đoạn đầu tiên của cuộc đời. Nhưng không thể vì thế mà đưa tới kết luận rằng sau đó không còn gì để làm nữa! Cứ nhìn xung quanh, chúng ta sẽ thấy biết bao nhiêu cháu ở tuổi dậy thì đang còn phải lệ thuộc vào môi trường sống của mình, hoặc vẫn chưa thoát khỏi những khủng hoảng của tuổi dậy thì.
Cuộc chiến giữa những đòi hỏi của giáo dục gia đình, của luật lệ xã hội (cái siêu tôi) với những xung lực của bản năng làm cho các cháu luôn phân vân: lúc thì muốn nổi loạn để sống độc lập, lúc thì lại muốn bám chặt lấy gia đình. Hiểu và cảm thông được cái lưỡng cực này đang xảy ra trong tâm hồn các cháu sẽ giúp các cháu tìm lại được quân bình.

Lớn mạnh thể xác và tinh thần
Tình cảm sôi sục trong lòng. Dưới ảnh hưởng của những chất hormon, cơ quan sinh dục cũng như khả năng tính dục cũng phát triển mạnh. Tình yêu bắt đầu chớm nở. Mộng mơ, lãng mạn như đang sống trên mây với trăng sao.
Và vì thế, đó là tuổi của những bí mật... Nhà văn Marcel Pagnol viết: "Ngày qua ngày, mấy cậu con trai lớn dần… Chúng nó bắt đầu sống một cuộc sống riêng tư. Ở trường, chúng đóng vai một nhân vật, khi về nhà mỗi chiều thì chúng lại đóng vai một nhân vật khác hẳn. Chúng có nhiều bạn bè mới mà cha mẹ chúng không hề hay biết, và chúng giữ kín những bí mật đó trong lòng… Đó là một quãng thời gian rất quan trọng của cuộc đời… giống như đang được sinh ra một lần thứ hai…"
Phải, đúng là sinh ra lần thứ hai. Có người lại ví von xem đó như một công trình xây dựng vĩ đại. Các cháu phải đào sâu tới quá khứ, quay về tìm hiểu những gánh nặng cũng như hạnh phúc của tuổi thơ, để làm lại nền móng cho cuộc đời của mình. Phước cho cháu, nếu kỳ vọng của ông bà, cha mẹ là những ước muốn quân bình. Phước cho cháu, nếu đã sống những ngày tháng đầu tiên của cuộc đời trong hạnh phúc. Nhà càng cao, móng phải càng sâu, càng chắc chắn… Nghĩa là các cháu càng khổ cực hơn nếu phải xây dựng tương lai trên một nền tảng không được chắc chắn. Mà càng cố gắng, càng khổ cực thì tuổi dậy thì càng khó vượt qua.

Khẳng định bản ngã
Có nhà tâm lý học chia tuổi dậy thì thành 3 thời kỳ. Giai đoạn đầu, các cháu phải tập làm quen với những biến đổi ngay trên thân xác mình, quả tim cũng bắt đầu hừng hực lửa. Một giai đoạn nhiều biến động, phiền toái, nhưng đó mới chỉ là bước đầu của cuộc chiến. Ở giai đoạn thứ 2, thì cuộc chiến đã bùng nổ thực sự. Cuộc chiến nội tâm, giữa mình với mình, bắt đầu lan dần tới gia đình và xã hội. Vào lúc này, cháu sẽ đi khám phá thế giới quanh mình, khám phá luật lệ và cấm kỵ. Cháu sẽ nổi loạn chống bất công và đôi khi trở thành liều lĩnh. Nhưng cũng nhờ đó mà biết được người, biết được mình. Nhưng trước khi thành nhân, có cháu lại thích kéo dài khoảng thời gian lệ thuộc vào cha mẹ. Không biết tự lập, tuổi dậy thì kéo dài…
Đứng trước một hoàn cảnh nào đó, bản năng thường biểu hiện bằng 2 cách: bắt chước hoặc chống đối. Cả 2 thái độ đều có ích. Bắt chước giúp chúng ta học hỏi thêm những điều mới lạ, chống đối đòi hỏi óc sáng tạo ra một điều khác. Trước dậy thì, các cháu thường bắt chước học hỏi nơi cha mẹ, thầy cô và bạn bè. Trong lúc dậy thì, thái độ chống đối lại càng rõ nét hơn.
Không phải lúc nào những ray rứt nội tâm cũng được giải quyết thỏa đáng. Mọi dồn nén đều sẽ bùng nổ. Điều đó nếu đúng cho vật lý học thì cũng đúng cho tâm lý học. Bùng nổ sẽ đưa đến bạo động, rượu chè, ma túy. Bùng nổ sẽ đưa đến thoát ly, cái chết... Nhưng cũng có những quả bom nổ chậm, những nội tâm hàn rỉ từng ngày... Cấm kỵ, uất ức đã trở về vô thức để đến nỗi cái Ngã sâu thẳm nhất cũng phải bị xáo trộn. Mà vô thức bị xáo trộn thì ý thức làm sao an bình được?

"Sáu điều tâm niệm" của bậc cha mẹ
Không cần phải xẻ nhỏ tuổi mới lớn ra thành từng mảnh để xem xét dưới kính hiển vi. Không cần phải luôn luôn cảnh giác, dòm ngó, coi chừng. Tuổi đang lớn cần được nghe, được hiểu và được cảm thông. Các bậc cha mẹ cũng nên biết một số điều cần thiết:

1- Đang lớn không có nghĩa là bệnh hoạn, mặc dù các cháu đang sống thời kỳ thay da đổi thịt, và vì thế các cháu gặp ít nhiều đau khổ.

2- Tuổi đang lớn thì luôn có "vấn đề". Nói cách khác, nếu thấy mọi chuyện đều "êm đẹp" như lúc các cháu còn bé tí thì ngược lại, phải lo lắng! Tuổi đang lớn thường nổi loạn. Có cuộc nổi loạn nào bọc nhung?

3- Có thể ví tuổi đang lớn như một công trình xây dựng lớn. Các cháu đang đập bỏ để xây dựng, đang đào sâu tới tận cái nền móng mà mình đã sống lúc còn bé. Điều đó sẽ đưa tới một vài hậu quả sau:

·        Khó mà biết được là công trình xây dựng này sẽ kéo dài bao lâu.

·        Khó mà tránh khỏi một số vấn đề. Một công trình "tầm cỡ" như thế không thể nào không có vài chuyện rắc rối.

·        Nếu cái nền móng lúc còn bé tí có vài trục trặc thì thế nào cũng gặp nhiều khó khăn khi muốn xây dựng tiếp. Nếu tuổi thơ có vấn đề thì tuổi đang lớn cũng khó tránh khỏi. Biết để rồi khổ, nhưng nói ra để dễ giải quyết.

4- Và công trình xây dựng đó là gì? Các cháu đang xây dựng những mấu chốt đời sống tâm thần của chính mình:

·        Nhìn lại mình, hình ảnh tốt hoặc xấu của mình: thân thể và tâm thần đang có quá nhiều biến chuyển, nên thường là kém tự tin. Chưa hiểu chính xác được những cái nhìn của người khác về mình.

·        Gái hay trai? Cháu gái đôi khi lại nghịch ngợm gan lì như một cậu trai. Cháu trai vì sợ mình không đủ "chất đàn ông", nên lại thường quá lì lợm, liều lĩnh.

·        Tính dục: Yêu ai? Làm sao yêu? Nếu mình là đồng tính luyến ái? Tất cả những điều đó làm các cháu phân vân, lo ngại. Thống kê nói rằng 95% các cháu ở tuổi đang lớn đều thủ dâm.

·        Cá tính: vừa muốn sống độc lập, suy nghĩ và quyết định một mình, nhưng lại hay lưỡng lự, e ngại. Đôi khi lại thích nhờ cậy cha mẹ những chuyện mà chính mình có thể làm được.

·        Dự tính cho tương lai: muốn tiến tới, muốn tạo tương lai cho riêng mình nhưng lại thường đặt câu hỏi về cuộc đời. Như thế để làm gì? Tại sao? Làm chi cho mệt?

·        Luật lệ xã hội: Biết những điều cấm kỵ của xã hội, biết giới hạn của chính mình. Nhưng đôi khi lại nổi loạn, đùa chơi với luật lệ.

·        Giao tiếp: Thích quen bạn bè nhiều hơn trước hoặc trái lại không còn muốn liên lạc với ai. Nhập băng đảng để hoàn toàn vâng theo băng đảng, không còn một cá tính riêng biệt.

5- Khi nào phải lo? Khi vấn đề trở nên quá nghiêm trọng hoặc kéo dài quá lâu. Khi các cháu không còn muốn tiếp xúc với ai, không bạn bè để trao đổi. Khi các cháu lúc nào cũng buồn, muốn bỏ học rồi trở thành du côn, du đãng. Khi các cháu lúc nào cũng chống lại mẹ cha, dù đó chỉ là một chuyện rất nhỏ nhen, thì đó cũng là cách để trốn tránh những câu hỏi thực sự đang ở trong tâm hồn các cháu.

6- Không thờ ơ nhưng cũng không mặc cảm tội lỗi: Để trưởng thành, các cháu đôi khi cần tách rời mình với cha mẹ, cần chống lại cha mẹ. Mặt khác, có cha mẹ nào mà hoàn hảo được đâu? Đôi khi, những thiếu sót của bậc cha mẹ lại là một điều may mắn cho các cháu…