Khi bạn ở tuổi vị thành niên
Định nghĩa về thời VTN đòi hỏi phải xét
đến độ tuổi và những ảnh hưởng của lịch sử xã hội. Theo quan điểm hiện nay thì
thời VTN là giai đoạn chuyển tiếp giữa thời đồng ấu và thời trưởng thành. Nó
bao gồm những thay đổi về sinh lý, nhận thức và cảm xúc xã hội.
Ngày nay ở Mỹ và
ở hầu hết các nền văn hoá khác, tuổi VTN của đa số người bắt đầu từ tuổi 10-13
và kết thúc vào lúc 18-22 tuổi. Thời đầu VTN tương đương với những năm học giữa
cấp II và đầu cấp III, trải qua hầu hết những thay đổi của tuổi dậy thì. Thời
cuối VTN là vào khoảng nửa sau thập niên thứ hai của đời người. Những mối quan
tâm về sự nghiệp, hẹn hò, khám phá giá trị bản thân thể hiện rõ hơn so với thời
đầu VTN.
Nhận thức xã hội là cách cá nhân cảm
nhận và lý giải về thế giới xã hội của mình - những con người họ gặp và quan hệ
với những mối quan hệ với những con người hay nhóm mà họ tham gia, và cách họ
lý giải về chính mình và về người khác. Đây là thời kỳ có nhiều thay đổi, cho
nên về nhận thức xã hội của trẻ cũng có nhiều sự thay đổi.
Trẻ VTN thường
có tính vị kỷ, đây là sự phản ánh niềm tin của trẻ rằng những người khác quan
tâm và chú ý đến họ và đến sự độc đáo trong nhân cách của họ y như họ vậy. Cảm
giác về sự độc đáo cá tính của mình khiến trẻ vị thành niên cảm thấy không ai
thật sự hiểu được cảm xúc của họ.
Trẻ VTN thường
nhận ra sự nhìn nhận qua lại không phải lúc nào cũng dẫn đến sự thông hiểu nhau
hoàn toàn. Sự thoả thuận ngầm là cần thiết vì nó được hiểu bởi tất cả thành
viên của nhóm (người khác nói chung), bất chấp vị trí, vai trò và kinh nghiệm
của họ.
Quan hệ của trẻ với gia đình: Những
thay đổi ở trẻ VTN có ảnh hưởng đến mối quan hệ cha mẹ - con cái tuổi VTN là,
dậy thì, óc lý giải logic, tư duy lý tưởng, khuynh hướng bạo động, những thay
đổi ở trường học, bạn đồng trang lứa, tình bằng hữu, hẹn hò, khuynh hướng độc
lập. Nhiều nghiên cứu cho thấy xung đột giữa trẻ VTN và cha mẹ, nhất là giữa mẹ
và con trai, là căng thẳng nhất trong đỉnh điểm thời dậy thì. Xét về sự thay
đổi nhận thức, trẻ VTN đã biết lý giải hợp lý, có hệ thống hơn so với cha mẹ.
Thời kỳ đồng ấu, cha mẹ có thể nói “Nào, chúng ta làm theo cách của mẹ nhé!” và
đứa trẻ vâng lời làm theo. Nhưng khi kỹ năng nhận thức tinh tế hơn, trẻ VTN
không còn chấp nhận lời tuyên bố đó để được coi là ngoan ngoãn nữa. Ngay cả khi
cha mẹ đưa ra lý lẽ coi bộ hợp lý cho những quy tắc đó, thì nhận thức phức tạp
của trẻ VTN vẫn cứ tìm ra những khiếm khuyết. Những lần thuyết trình kéo dài
thường làm bế tắc mối quan hệ cha mẹ - con cái tuổi VTN nhưng lại xảy ra thường
xuyên giữa họ.
Ngoài ra, những
suy nghĩ lý tưởng xuất hiện trong mối quan hệ cha mẹ - con tuổi VTN. Con cái
bây giờ đánh giá cha mẹ theo chuẩn mực của bậc cha mẹ lý tưởng. Cho nên thực tế
mối quan hệ với cha mẹ, vốn tất yếu bao gồm cả những tiêu cực, khiếm khuyết,
được đặt kế bên giản đồ về cha mẹ lý tưởng của trẻ VTN. Và thuộc một phần tính
vị kỷ, mối quan tâm của trẻ VTN đến việc người khác cảm nhận mình như thế nào
khiến trẻ thường có phản ứng thái quá trước những lời bình phẩm của cha mẹ.
Một khía cạnh
khác, cha mẹ cảm nhận hành vi này như là sự chống đối và phản kháng, vì nói
khác với từ hành vi nhượng bộ trước đó của trẻ. Đối phó với sự không tuân thủ,
cha mẹ thường gia tăng áp lực buộc trẻ phải vâng lời. Trong trường hợp này, nỗi
mong chờ của cha mẹ ở giai đoạn phát triển tương đối chậm rãi đã bị rớt lại
phía sau hành vi của trẻ VTN trong giai đoạn dậy thì thay đổi nhanh chóng.
Thế giới xã hội
của trẻ VTN đóng góp những gì cho mối quan hệ cha mẹ - con tuổi VTN? Trẻ VTN mang vào nó những định nghĩa mới về
hành vi thích hợp về mặt xã hội. Trong xã hội, những định nghĩa ấy liên quan
đến sự thay đổi chương trình học ở nhà trường - chuyển tiếp lên trường cấp III.
Trẻ VTN được đòi hỏi phải làm tròn nhiệm vụ trong môi trường rộng lớn và tự chủ
hơn, với nhiều người thầy hơn. Có thêm nhiều việc thì cũng đòi hỏi thêm trách
nhiệm và sự quyết đoán. Trường học không phải là vũ đài xã hội duy nhất góp
phần vào mối quan hệ cha mẹ - con cái tuổi VTN. Trẻ VTN có nhu cầu cần độc lập
mạnh mẽ.
Quan hệ của trẻ với anh chị em ruột:
Rất nhiều trẻ VTN có một hay nhiều anh chị em ruột. Mối quan hệ anh chị em ruột
của trẻ VTN bao gồm giúp đỡ, chia sẻ, dạy dỗ, đánh nhau, chơi đùa. Anh chị em
ruột có thể là người hỗ trợ cảm xúc, đối thủ và đối tác giao tiếp cho nhau.
Trong vài trường hợp anh chị em ruột – do tương đồng về tuổi tác – có thể có
một ảnh hưởng xã hội tới trẻ VTN mạnh mẽ hơn là cha mẹ. Vì xấp xỉ tuổi, họ có
thể hiểu những vấn đề và mối thông tin liên lạc của trẻ VTN hiệu quả hơn cha
mẹ. Họ cũng dễ dàng giúp nhau tiếp xúc với bạn đồng trang lứa, đối mặt với
những giáo viên khó tính, bàn thảo những vấn đề cấm kỵ (như tình dục) hơn. Mặc
dù vậy, xung đột giữa anh chị em ruột tuổi VTN thường ở mức cao hơn so với mối
quan hệ với những đối tượng xã hội khác, nhưng nhiều bằng chứng cho thấy xung
đột đó thật ra ít hơn so với thời đồng ấu. Vì khi bước sang tuổi VTN, hầu hết
anh chị em ruột đã học được cách giao tiếp với nhau bình đẳng hơn, và như vậy
sẽ tháo gỡ được những khác biệt thời đồng ấu.
Quan hệ với các bạn đồng trang lứa: Khi
nghiên cứu về tầm quan trọng của các bạn đồng trang lứa, cho thấy trẻ bắt đầu
bước sang tuổi VTN rất tò mò về thế giới mình đang sống và luôn theo sát những
gì xảy ra với bạn bè và bạn đồng trang lứa. Họ thích thú và hài lòng trước mối
thân tình và cả khả năng bị tổn thương trong các mối quan hệ giữa người với
người nói chung và các mối quan hệ mà họ nhận được. Họ đặc biệt chú trọng đến
việc thành lập những nhóm bạn trong cuộc sống. Mối quan hệ bạn đồng trang lứa
cùng tuổi đóng vai trò rất quan trọng trong mọi nền văn hoá. Từ nhóm bạn cùng
tuổi, trẻ VTN nhận được những phản hồi về khả năng của mình, biết mình tốt hơn
hay tệ hơn những gì mà bạn đồng trang lứa làm. Điều này thật khó học ở nhà bởi
vì anh chị em ruột thường nhỏ hơn hoặc lớn hơn.
Ở giai đoạn này,
hẹn hò là mối quan hệ lãng mạn ban đầu, nhiều trẻ VTN không có động cơ tiến tới
sự gắn kết hoàn toàn hay nhu cầu tình dục, mà xem đó như là một tình huống để
thăm dò xem mình hấp dẫn, lôi cuốn đến đâu, làm thế nào để thiết lập mối quan
hệ lãng mạn với ai đó, và để “làm màu” với bạn cùng trang lứa khác coi bọn họ
nghĩ gì về việc này. Chỉ sau khi trẻ VTN cảm nhận được những năng lực cơ bản
trong quan hệ với đối tác lãng mạn thì nhu cầu tình dục và gắn kết mới nảy sinh
và trở thành mục đích trung tâm của mối quan hệ này.
Trẻ VTN và trường học: Khi trẻ nhỏ phát
triển thành trẻ VTN và từ VTN lên người lớn, họ trải qua sự chuyển tiếp trong
trường học. Trường học ủng hộ học sinh hơn, ít phức tạp hơn, ít nặc danh sẽ làm
tăng tính thích nghi của học sinh trong thời chuyển tiếp từ trường cấp I lên
cấp II. Sự thích nghi của trẻ được đánh giá qua việc tự báo cáo, được bạn đồng
trang lứa và thầy cô biết đến. Nó giảm đi vào thời hậu chuyển tiếp. Khuôn mẫu
tình bạn cũng ảnh hưởng đến sự thích nghi của trẻ. Trẻ tiếp xúc nhiều với bạn
bè và có tình bạn thân thiết sẽ cảm nhận tích cực hơn về bản thân và về trường
học. Sau khi học hết cấp III, sự chuyển tiếp lên đại học, hoặc ra đi làm trọn
thời gian là thời gian để trưởng thành hơn là khó nhọc, gian nan. Cá nhân tỏ ra
ít trầm uất hay phạm pháp hơn hai năm cuối trung học. Họ có mối quan hệ tốt hơn
với cha mẹ. Với đa số, sự chuyển tiếp lên đại học có một thay đổi rõ rệt là
giảm bớt sự tiếp xúc với cha mẹ.
Suy nghĩ của trẻ VTN: Trẻ VTN thường
suy nghĩ miên man xem mình là ai và điều gì làm mình khác biệt với người khác.
Họ cứ bám víu vào chân giá trị này và càng lúc càng cảm giác nó chắc chắn hơn.
Phát triển tâm lý ở trẻ VTN rất phức tạp, liên quan đến nhiều khía cạnh của bản
thân. Khi mô tả bản thân, trẻ VTN thường dùng những từ ngữ trừu tượng và lý
tưởng hơn trẻ nhỏ. Trẻ VTN có bản chất mâu thuẫn, nên không có gì ngạc nhiên
nếu tâm lý trẻ VTN dao động theo tình huống và thời gian khác nhau. Mặc dù trẻ
VTN thường có cảm giác bối rối và xung đột do sự tự vấn và tìm hiểu bản thân.
Theo đó, trẻ có khuynh hướng phủ nhận những đặc điểm tính cách tiêu cực của
mình, và mô tả bằng những nét tích cực.
Giới tính và trẻ VTN: Trong những năm
gần đây, lĩnh vực giới tính có sự thay đổi chóng mặt trong sự phát triển xã hội
của trẻ VTN. Những thay đổi dậy thì tác động đến thái độ và hành vi giới tính
của trẻ VTN. Các hormone hoạt động khiến cho cả nam lẫn nữ đều muốn trở thành
những cô gái, chàng trai lịch lãm, tuyệt hảo nhất - với những khuôn sáo hành xử
cho mỗi giới. Đa số họ tỏ ra điều đó với người khác phái, đặc biệt với đối
tượng họ muốn hò hẹn với. Vì vậy, nữ phải dễ thương, nhạy cảm, duyên dáng, nói
năng nhỏ nhẹ, đi đứng nhẹ nhàng; còn nam cần phải dũng mãnh, ngổ ngáo, mạnh mẽ.
Họ cũng có những ham muốn tình dục - với nam là do hormone điều khiển, với nữ
là do ảnh hưởng của bạn bè hơn là do lượng hormone tiết ra. Trong khi thay đổi
sinh lý sáp nhập hành vi tình dục vào hành vi giới tính thì tình dục trở thành
một phần của giới tính như thế nào là do ảnh hưởng của xã hội, như chuẩn mực
văn hoá đối với tình dục và sự hẹn hò quyết định. Một giải thích cho hành vi cư
xử khác nhau giữa các phái là các vai trò nữ tính và nam tính truyền thống đang
ngày càng được xã hội hoá. Tuy nhiên, dậy thì cũng góp phần rất quan trọng bởi
vì nó là một dấu hiệu thông báo với những người khác – cha mẹ, bạn đồng trang
lứa, giáo viên - rằng trẻ VTN đó bắt đầu bước vào thế giới người lớn, và vì
vậy, nên bắt đầu hành xử theo cách giống như khuôn mẫu nam và nữ của người lớn.
Xu hướng phát triển giới tính của trẻ VTN chịu ảnh hưởng từ cha mẹ, bạn đồng
trang lứa, của giáo viên và trường học, của truyền thông đại chúng và nhận
thức.
Trẻ VTN và tình dục: Thời VTN bắt đầu
tò mò, suy nghĩ, khám phá và thử nghiệm tình dục. Thậm chí có trẻ còn thực hiện
hành vi tình dục dù chưa hiểu biết hết. Tuy nhiên cũng nên nhớ rằng sự phát
triển và mối quan tâm đến tình dục là điều bình thường; và rằng đa số trẻ VTN
có thái độ và hành vi tình dục lành mạnh, an toàn.
Tình dục VTN
thường chịu ảnh hưởng của văn hoá và các nguồn thông tin được tiếp cận. Nhưng nhìn
chung, ngày nay vấn đề tình dục cũng đã bớt khắt khe hơn và có phần buông thả
hơn, nó không còn “độc quyền” là chuyện phòng the của vợ chồng nữa. Tỷ lệ trẻ
VTN quan hệ tình dục không kết hôn gia tăng âu cũng là một khuynh hướng xuôi
chiều theo nền văn hoá của người lớn.
Ở độ tuổi này,
trẻ VTN thường gặp vấn đề và lúng túng khi thể hiện vấn đề tình dục. Nữ thường
liên hệ tình dục với tình yêu. Họ lý luận hành vi tình dục của mình là bị cuốn
theo giây phút đam mê và việc cậu bạn tình ngỏ lời yêu là lý do chính khiến họ
quan hệ tình dục. Một lý do khác không liên quan đến tình yêu là họ bị khuất
phục bởi áp lực của nam giới, đánh cược rằng tình dục là cách để có bạn trai,
để thoả chí tò mò. Phần lớn mối quan hệ tình dục trong tuổi VTN là nam bày tỏ
trước, nữ đặt giới hạn cho quan hệ lần đầu tiên của nam. Và nam bị ảnh hưởng
đáng kể bởi áp lực bạn đồng trang lứa. Nam giới ham muốn và đòi hỏi nữ
quan hệ tình dục nhưng họ bảo rằng họ không hề ép buộc đối tác. Theo một số
nghiên cứu thì lý do khiến nam giới quan hệ tình dục là: Nữ đòi hỏi, họ nghĩ
mình ham muốn, họ muốn được yêu, họ không muốn bị bạn bè chế giễu. Tuy nhiên,
trẻ VTN là đối tượng ít biết áp dụng những biện pháp phòng ngừa nhất, và nguy
cơ thụ thai ngoài ý muốn và bị lây nhiễm bệnh qua đường tình dục nhất. Quan hệ
tình dục sớm cũng dễ mắc những hành vi xấu như uống rượu, ma tuý, phạm pháp và
học hành sút kém.
Trẻ VTN thường
giống nhau về ham muốn tình dục. Với trẻ không hẹn hò, trẻ cố ý không giao hợp
hay khám phá tình dục, một cách để đối phó với ham muốn tình dục hoặc thủ dâm
hoặc tự kích thích. Hầu hết trẻ trai xuất tinh lần đầu năm 12-13 tuổi – do quan
hệ với người khác phái, người cùng phái, do mộng tinh hay thủ dâm. Thủ dâm là
cách giải toả ham muốn tình dục thường xuyên nhất của trẻ VTN. Trẻ VTN ngày nay
không còn cảm thấy tội lỗi về thủ dâm, dẫu vẫn thấu lúng túng và tự vệ.
Đạo đức và trẻ VTN: Thời VTN là giai
đoạn quan trọng trong việc phát triển luân lý đạo đức, nhất là với cá nhân
chuyển tiếp từ môi trường cấp II quen thuộc lên môi trường cấp III và đại học,
nơi họ phải chấp nhận và trải nghiệm những khái niệm luân lý đạo đức mâu thuẫn
nhau bên ngoài phạm vi gia đình và chòm xóm. Trẻ VTN bắt đầu nhận tháy rằng hệ
thống niềm tin của mình chỉ là một trong nhiều hệ thống khác, rằng sẽ có những
tranh luận gay gắt về điều đúng-điều sai. Nhiều trẻ VTN bắt đầu tự vấn những
nhiềm tin trước đây của mình, và khi làm như vậy, họ đã phát triển hệ thống
luân lý đạo đức của bản thân.
Thành tích, nghề nghiệp và công ăn việc
làm: Thời vị thành niên được xem là thời bước ngoặt cho thành tích. Những
áp lực học thuật và xã hội mới luôn thúc ép trẻ VTN hướng đến những vai trò
khác nhau, đòi hỏi nhiều trách nhiệm hơn. Thành tích trở nên một vấn đề nghiêm
túc đối với trẻ VTN, và họ bắt đầu nhận thấy mình đang thật sự lao vào “trò
chơi cuộc đời”. Thậm chí họ còn xem thành công và thất bại hiện thời là dấu
hiệu dự báo cho kết cục tương lai trong thế giới người lớn. Những yêu cầu dồn
dập, thuộc những lĩnh vực muôn màu trong cuộc sống của trẻ VTN có thể chuyển thành
xung đột. Những mối quan tâm xã hội của họ bị thâm hụt vào thời gian theo đuổi
học vấn; những hoài bão trong lĩnh vực này bào mòn đi mục tiêu ở lĩnh vực khác;
thành tích học tập dẫn tới sự phản kháng xã hội. Dù có thích nghi với những áp
lực học tập và xã hội hay không thì tính hiệu quả vẫn được quyết định bởi những
yếu tố môi trường, tâm lý và động cơ của họ. Quả thật, thành tích của trẻ VTN
tuỳ thuộc vào nhiều hơn trí lực của họ. Học sinh ít thông minh hơn nhưng lại có
động cơ mạnh, chẳng hạn, tự tin vào khả năng giải quyết vấn đề của mình, quyết
chí đeo đuổi mục tiêu tới cùng – hoá ra lại có thành tích cao. Ngược lại, học
sinh thông minh nhưng dễ bỏ cuộc, không tự tin vào khả năng của mình sẽ không
đạt được thành tích tốt đẹp.
Khi được hỏi lớn
lên sẽ làm gì, trẻ nhỏ thường đáp là làm “bác sỹ”, “siêu nhân”, “giáo viên”,
“ngôi sao màn bạc”, “ngôi sao thể thao” hoặc bất cứ nghề gì. Trong khi còn nhỏ
tuổi, tương lai dường như nắm vững những cơ hội vô hạn. Cho tới 11 tuổi, trẻ ở
giai đoạn mộng tưởng. Từ VTN 11-17, trẻ VTN thuộc giai đoạn thử nghiệm, thời
chuyển tiếp giữa mộng tưởng và thực tế . Trẻ VTN tiến bộ theo từng nấc đánh
giá: mối quan tâm, sở thích (11-12 tuổi); khả năng (13-14 tuổi), những giá trị
của mình (15-16 tuổi). Từ 17, 18-20 tuổi, suy nghĩ của họ bớt chủ quan đi và
dần thực tế hơn trong sự lựa chọn - giai
đoạn thực tế. Giai đoạn này, cá nhân mở rộng thăm dò những nghề nghiệp có sẵn
rồi tập trung vào một nghề nghiệp cụ thể, cuối cùng chọn một công việc chuyên
biệt trong nghề nghiệp đó (chẳng hạn, bác sỹ nhi khoa, bác sỹ tổng quát, bác sỹ
phẫu thuật nằm trong phạm vi nghề bác sỹ).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét